PLATIN - PLATINUM LÀ GÌ

PLATIN-PLATINUM   LÀ GÌ  ?


PLATIN-Platinum được người Tây Ban Nha phát hiện đầu tiên ở sông Phitha - thuộc Peru ngày nay. Thuộc nhóm kim loại quý, khó khai thác, nên Platinum đắt hơn vàng. Platinum là kim loại quý hiếm bậc nhất, là biểu tượng cho sự sang trọng và sức sống mãnh liệt. Sự kết hợp tinh tế giữa những viên kim cương xinh đẹp trên nền chất liệu platinum sẽ luôn tạo ra những món trang sức sang trọng và uy quyền, cao quý nhưng thanh nhã, tinh tế cho những ai sở hữu chúng. Platinum đi kèm với phục trang có gam màu trung tính sẽ tôn lên vẻ kiều diễm của người phụ nữ. Người Nhật rất ưa chuộng bạch kim, do vậy nhẫn đính hôn và nhẫn cưới của các đôi nam nữ Nhật Bản phần lớn được làm từ kim loại quý này.
nhan-cuoi-kim-cuong-platin-platinum

Platin-Platinum hay còn gọi là  ( Bạch kim ) nó là một kim loại quý hiếm được sử dụng rộng rãi để làm đồ trang sức, bộ chuyển đổi xúc tác, chất dẫn điện, máy trợ tim, thuốc chữa ung thư và nam châm. Nó là một kim loại hiếm - chỉ chiếm 5 phần tỉ (tính theo trọng lượng) của vỏ trái đất.  Platinum có giá trị rất cao quý hiếm như vàng và vì vậy ai cũng muốn mua và dùng làm nhẫn cưới  bạch kim ( platin )  
Platinum là kim loại có màu trắng  - còn được gọi là "vàng trắng". Đặc biệt, nó được biết đến như một "kim loại quý tộc", không hoen rỉ, ít bị ăn mòn, dẻo và dễ uốn. Ngoài ra, Platinum có thể dễ tạo hình, kéo dãn thành sợi và không gây ra phản ứng (tức là không bị oxy hóa và ảnh hưởng bởi axit thông thường).



Platinum là một trong những kim loại chuyển tiếp gồm có vàng, bạc, đồng và titan và hầu hết các nguyên tố này đều nằm ở giữa bảng tuần hoàn. Cấu trúc nguyên tử của những kim loại này có thể dễ dàng liên kết với các nguyên tử khác.
 Platinum cũng là một trong những nguyên tố nặng nhất 21,45 g/cm3, nhẹ hơn 21 lần so với nguyên tử khối của nước và 6 lần với nguyên tử khối của kim cương. Những tính chất hóa học này giúp cho kim loại bạch kim trở nên quý hiếm và đắt đỏ.


Cách phân biệt vàng trắng và Platinum!


Khi đi mua trang sức, chúng ta hay nghe nói về hai loại chất liệu là vàng trắng và bạch kim, làm thế nào để phân biệt chúng?  xin mách bạn vài mẹo nhỏ sau :

Vàng trắng là hợp kim của vàng và các kim loại quý khác, trong đó vàng là thành phần chính. Vàng trắng có màu trắng ngà nên khi thành đồ trang sức sẽ được phủ lên bề mặt một lớp kim loại Rhodium quý hơn vàng nên có màu trắng sáng rực rỡ.

Do vậy, vàng trắng dùng một thời gian thường bị ngả vàng. Để nữ trang vàng trắng luôn đẹp, tốt nhất khoảng 2 tháng khách hàng mang tới cửa hàng xi lại lớp Rhodium và kiểm tra lại các ổ hột.

Bạch kim còn gọi là Platinum là kim loại quý có giá trị cao gấp 1,7 - 2 lần so với vàng 99.99. Bạch kim có màu trắng, có độ bóng và sáng cao hơn vàng trắng. Bạch kim có tỷ trọng cao hơn vàng do đó nữ trang trang làm bằng bạch kim nặng hơn rất nhiều so với nữ trang vàng có cùng kiểu dáng và kích cở.

Hiện nay, người tiêu dùng thường gọi vàng trắng là bạch kim. Do giá cao, vẻ đẹp cũng giống như vàng trắng và khó sản xuất cho nên tại thị trường Việt Nam rất hiếm có nữ trang làm bằng bạch kim. 



Tính chất chung:

Số nguyên tử (số proton trong hạt nhân): 78
Ký hiệu nguyên tử (trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học): Pt
Khối lượng nguyên tử (khối lượng trung bình của nguyên tử): 195,1
Mật độ: 21,45 g/cm3
Trạng thái vật chất: chất rắn
Nhiệt độ nóng chảy: 3215,1o F (1768,4o C)
Nhiệt độ sôi: 6917 F (3825 C)
Số đồng vị tự nhiên (các nguyên tử có cùng nguyên tố và khác số nơtron): 6. Ngoài ra còn có 37 đồng vị nhân tạo được tạo ra trong phòng thí nghiệm.
Đồng vị phổ biến nhất: Pt-195 (33,83% số lượng tự nhiên), Pt-194 (32,97% số lượng tự nhiên), Pt-196 (25,24% số lượng tự nhiên), Pt-198 (7,16% số lượng tự nhiên), PT 192 (0,78% số lượng tự nhiên), Pt-190 (0,01% số lượng tự nhiên)
Kim loại "không tan chảy"


Trong thời cổ đại, người Ai Cập và người châu Mỹ sử dụng Platinum trộn lẫn với vàng để làm đồ trang sức và đồ trang trí. Tài liệu tham khảo đầu tiên về bạch kim được viết vào năm 1557, khi Julius Scaliger - một bác sĩ người Ý mô tả về một kim loại được tìm thấy ở Trung Mỹ không tan chảy, có tên gọi là "Platina" nghĩa là "có một ít bạc".

Theo nhà sử học Hà Lan Peter van der Krogt, năm 1741 nhà khoa học người Anh Charles Wood tiến hành một nghiên cứu giới thiệu Platinum là một kim loại mới, có một số tính chất hóa học và các ứng dụng thương mại. Sau đó, năm 1748 nhà khoa học người Tây Ba Nha và sĩ quan hải quân Antonio de Ulloa thêm mô tả là không sử dụng được và không thể tan chảy (Thực tế, ông viết nó vào năm 1735 nhưng do bị lính hải quân Anh tịch thu giấy tờ).

Theo van der Krogt, trước thế kỷ thứ 18, Platinum là kim loại thứ 8, được biết đến như "vàng trắng". Những kim loại trước nó là sắt, đồng, bạc, thiếc, vàng, thủy ngân và chì.

Trong những năm 1800, bạn bè và đồng nghiệp của hai nhà hóa học người Anh William Hyde Wollaston và Smithson Tennant đã sử dụng công nghệ của Wollaston để sản xuất và bán Platinum nguyên chất. Công nghệ này gồm hòa tan quặng Platinum trong hỗn hợp axit ni-trích (HNO3) và axit clohyđric (nước cường toan). Ngày nay, Platinum vẫn được sử dụng công nghệ của Wollaston để chiết xuất. Các mẫu vật có chứa Platinum được hòa tan trong nước cường toan và tan chảy ở nhiệt độ cao để sản xuất ra kim loại.



Những ứng dụng của Platinum?
Một trụ lớn Platinum và hợp kim Platinum được sử dụng như một tiêu chuẩn quốc tế để đo lường một ki-lô-gam. Trong những năm 1880, có khoảng 40 cái trụ nặng gần 1 kg được phân phối trên toàn thế giới. Platinum, iridi, osmi, palladi, ruthenium và rhodium đều thuộc cùng nhóm các kim loại (được gọi là "những kim loại bạch kim") và có những đặc tính giống nhau. Các kim loại này thường kết hợp với nhau để tạo ra bộ phận có độ bền cao cho nhiều động cơ, dụng cụ và đồ trang sức.


Năm 2014, Johnstone, Park và Lippard thực hiện một nghiên cứu và cho thấy rằng: "Platinum được sử dụng trong nhiều loại thuốc chống ung thư vì mức độ xảy ra phản ứng của nó rất thấp". Khoảng 50 phần trăm bệnh nhân điều trị ung thư hiện nay đang sử dụng các loại thuốc có chứa Platinum. Bác sĩ thú y Barbara Forney cho biết rằng: một số loại thuốc, chẳng hạn như cisplatin, cũng được sử dụng để điều trị các khối u và ung thư ở động vật.
Theo trang Encyclopedia.com, Platinum cũng được sử dụng trong máy trợ tim, chụp răng giả và các thiết bị khác sử dụng trong cơ thể con người vì nó không thể bị ăn mòn từ các dịch chất trong cơ thể và ít phản ứng với các chức năng cơ thể.
Theo Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, phần lớn (xấp xỉ 80%) Platinum được khai thác tại Nam Phi, gần 10% được khai thác ở Nga và phần còn lại được tìm thấy ở Bắc và Nam Mỹ. Platinum và những kim loại Platinum khác thường ít tìm được số lượng lớn, vì chúng chỉ thường được tìm thấy trong lúc khai thác kim các mỏ kim loại khác.

Theo trang Science for Kids, mỗi năm Platinum chỉ khai thác được khoảng 130 tấn thấp hơn gần 14 lần so với khối lượng vàng (xấp xỉ 1800 tấn).
Theo trang Total Materia, gần nửa số Platinum được khai thác và sử dụng trong các bộ chuyển đổi xúc tác, một phần giúp ô tô làm giảm các loại khí thải ít độc hại. Bạch kim và kim loại bạch kim khác có thể chịu được nhiệt độ cao ở các phản ứng oxy hóa nhằm làm giảm lượng khí thải.
Theo Chemicool, Platinum kết hợp với cobalt tạo ra nam châm vĩnh cửu. Nam châm được sử dụng trong các dụng cụ y tế, máy móc, đồng hồ và nhiều hơn nữa.
Theo trang Encyclopedia.com, Platinum được sử dụng như một chất xúc tác làm tăng năng suất trong sản xuất các chất như phân bón, nhựa, xăng dầu và các nhiên liệu khác.
Mặc dù giá của Platinum bị thay đổi nhiều do quá trình tăng trưởng kinh tế, giảm mạnh hơn so với giá của các kim loại quý hiếm khác nhưng nhiều nhà đầu tư vẫn dùng Platinum để trao đổi.
Theo trang Total Materia, khoảng 30% Platinum được sử dụng làm đồ trang sức. Phần lớn những viên kim cương đẹp nhất trên thế giới, chẳng hạn như Hope Diamond (theo Famous Diamonds) và các mặt hàng trong bộ sưu tập Elizabeth Taylor (theo Bulgari), đều được trưng bày trên đĩa làm bằng Platinum.

Nghiên cứu hiện nay về Platinum

Các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm ra cách sử dụng và ứng dụng mới của Platinum. 
Ví dụ như: Platinum được sử dụng trong các loại thuốc chống ung thư.

Năm 1844, nhà hóa học người Ý Michele Peyrone vô tình phát hiện ra Platinum có đặc tính chống ung thư (nghĩa là ngăn cản sự phát triển của các khối u). Năm 1971, bệnh nhân ung thư đầu tiên được điều trị bằng thuốc có chứa bạch kim.

Theo một bài báo được công bố trên tạp chí Chemical Reviews năm 2016, khoảng 50% bệnh nhân ung thư hiện nay được điều trị bằng các kim loại quý hiếm này. Các loại thuốc này bao gồm cisplatin, carboplatin, oxaliplatin và một số khác đang trong giai đoạn thử nghiệm.

Bài viết này thảo luận về một số loại thuốc ung thư mới nhất có chứa Platinum và hệ cung cấp mà họ cho rằng sẽ hiệu quả hơn trong cuộc chiến chống các tế bào ung thư. Các tác giả gọi đây là một "mối đe dọa kép" - loại thuốc có chứa Platinum trong một hệ thống cung cấp.

Các nhà nghiên cứu giải thích: những thứ được gọi là Platinum "đầu đạn" đích trong các tế bào ung thư chịu trách nhiệm ngăn cản sự phát triển và đưa ra các cách để loại bỏ tế bào ung thư có chứa nhiều thụ thể trên bề mặt. Do bởi các tế bào ung thư phân chia rất nhanh nên bệnh nhân cần hấp thụ nhiều chất dinh dưỡng (như glucose hoặc axit folic). Các hệ thống đích tìm ra những đặc điểm khác nhau của cơ thể và truyền trực tiếp thuốc vào bên trong tế bào. Khi chất Platinum nằm trong các tế bào, nó sẽ kết hợp với các thuốc hóa trị liệu khác để ngăn ngừa sự phân chia của các tế bào ung thư.

Một bài báo cho biết: "Lợi ích khác của việc sử dụng hệ cung cấp nano này là vì chất Platinum tồn tại trong máu một thời gian dài nên chúng có thể dẫn truyền đi tốt hơn và từ từ phát huy công hiệu của thuốc.

Theo tác giả, do cần số lượng lớn Platinum để nghiên cứu các loại thuốc chống ung thư nên các công ty lọc dầu đã sẵn sàng tham gia ngay. Mặc dù, việc sử dụng Platinum tinh chế trong thuốc ung thư có lợi cho nhiều người nhưng những người làm việc ở mỏ bạch kim phải làm cẩn thận vì họ trực tiếp hít và tiếp xúc với muối Platinum (được tạo ra từ quá trình làm sạch và trước khi bị tan vào kim loại) có thể gây tác dụng ngược lại bởi các nguy cơ gây hại cho sức khỏe như dị ứng, các bộ phận bên trong cơ thể, hoặc thậm chí là ung thư.

Một vài nghiên cứu khác bao gồm một nghiên cứu năm 2006 được công bố trên tạp chí Water, Air, and Soil Pollution và một nghiên cứu năm 2009 được trình bày tại Hội nghị thường niên ngành luyện kim Canada chỉ ra mối liên quan giữa khai thác mỏ Platinum và những ảnh hưởng không tốt đến môi trường - sức khỏe.


Vì sao Bạch Kim mắc hơn Vàng ?

 Bởi vì Bạch Kim là một kim loại hiếm, cứng hơn vàng (xem Mohs xem bảng bên dưới Platinum 4-4.5 / Gold 2.5-3)
- Hàng năm trên thế giới khai thác được khoảng 3000 tấn vàng, trong khi đó bạch kim chỉ khoảng 180 tấn.
- Để được một ounce platin (31g) người ta phải đào lọc khoảng 10 tấn đất khoáng, trong khi với số lượng vàng tương đương chỉ phải đào lên khoảng 3 tấn.
- Ước tính toàn bộ số bạch kim có trên thế giới có thể tìm thấy được chỉ khoảng một hồ bơi thế vận hội, trong khi số vàng mà con người khai thác được thì nhiều vô kể.
- Để có bạch kim nguyên chất người ta phải trải qua 150 giai đoạn để lường lọc những tạp chất khác ra và mất tổng cộng khoảng 5 tháng kể từ lúc đất khoáng được đào lên.
- Làm nữ trang bằng platin cần người có tay nghề chuyên nghiệp và làm khó hơn so với vàng: độ nóng chảy cao hơn 1773 độ C so với vàng 1063 độC và bạc 960 độC

Cách để biết có phải vàng trắng thật hay không !!

1. Khi sản xuất vật bằng vàng để bán trên thị trường (vòng, nhẫn, dây chuyền, v.v.) nhà sản xuất luôn luôn đóng dấu "chỉ số" hiệu vàng lên đó, nếu dấu hiệu chỉ có 2 số, đó là vật mạ vàng. Nhưng bọn kim hoàn gian vẫn có thể khắc dấu lên vàng giả, nên phương pháp này không chắc.


2. Tiệm mua / bán nữ trang họ có một bộ  dung dịch axít để thử, họ chà một đường thẳng vật thể lên miếng đá (tương tự đá mài dao) xong nhỏ giọt axít lên, axít dành cho vàng sẽ "ăn" đồ giả, vết vàng còn đó là vàng 333, giọt axít loại khác sẽ không ăn được vàng 585, v.v. cứ vậy mà họ thử tiếp. Nhưng với phương pháp này thì tiệm kim hoàn lại tính tiền thử nếu mình không mua / bán với họ.
3. Các có thể tự thử ở nhà: chà xát nhẹ vật "vàng" đó trên lưng bàn tay hoặc nơi nào đó trên da của mình trong vòng khoảng 3 phút, nếu vết để lại trên da màu xanh lá cây thì đó không phải vàng. Vàng để lại vết đen lợt.
4. Ngâm vật thể trong chlorine hoặc axít của trái chanh. Vàng dỏm sẽ hóa đen, vàng thật sẽ sạch bóng.
5. Cách tương đối dễ, đó là đo tỷ trọng. Xem cách thức bên dưới tương tự cách đo tỷ trọng của bạch kim. tỷ trọng của Vàng: 19,32 g / cm3

Lưu ý: Tỷ trọng của Tungsten (Wolfram) là 19,3 g/cm3 cũng gần bằng vàng, nên vật thể cũng có thể được mạ bằng Tungsten. Do đó cách tương đối chắc nhứt </span>là cách phối hợp càng nhiều càng tốt những phương pháp bên trên.
Một Cây vàng còn gọi là Lượng vàng hay Lạng vàng cân nặng 37.5 g. Một Chỉ vàng bằng 1/10 cây vàng. Trên thị trường kinh tế thương mại thế giới, vàng thường được đo theo hệ thống khối lượng troy, 1 troy ounce (ozt) tương đương 31.1034768 g


Vàng trắng tiếng Anh white gold là hợp kim của vàng và và ít nhất một loại kim loại trắng như nickel Ni  fullpost ( số nguyên tử 28) hay palladium Pd (số nguyên tử 46) hay Rhodium , trong đó vàng là thành phần chính. Vàng trắng có màu trắng ngà (ngà là ngà voi, trắng ngà là màu trắng như ngà voi) nên khi thành đồ trang sức chẳng hạn thì sẽ được phủ lên bề ngoài một lớp mỏng kim loại Rhodium, là kim loại quý tương đương platin, quí hơn vàng và có màu trắng sáng rực. Vì vậy vàng trắng dùng một thời gian sau thường bị ngả vàng hoặc trở màu xám "or gris" (vàng xám).

 PT hay PLAT là dấu bảo đảm Bạch Kim thật.







 tiếng Anh gọi là platinum, tiếng Pháp platine, là một thứ kim loại quí hiếm nhất, giá trị cao hơn so với vàng 999.9 Trong nguyên tố hóa học có ký hiệu Pt và số hiệu nguyên tử 78 trong bảng tuần hoàn, có màu trắng xám, có độ bền cao, có độ cứng 4 - 4.5 theo Mohs (xem bảng ở cuối bài ) khó bị oxy hóa, khó bị ăn mòn và có độ bóng lâu dài. Platin được dùng làm dụng cụ thí nghiệm, thiết bị y tế và nha khoa, dùng trong đồ trang sức.Do Bạch Kim có tỷ trọng cao hơn vàng nên nữ trang làm bằng Bạch Kim nặng hơn so với nữ trang cùng kích cở bằng vàng rất nhiều. Bạch Kim thường có từ 90 đến 95% Bạch Kim nguyên chất. Thường Bạch Kim thật có khắc dấu Pt950 (95% Platin, 5% Đồng hoặc palladium hoặc iridium).

Cách dễ nhất để thử xem có phải Bạch Kim thật hay không:

Cách  1: Cân trọng lượng của vật (bạch kim) đó, và tính thể tích của nó. Tỷ trọng = Trọng lượng chia Thể tích. Tỷ trọng của bạch kim là 21,45 g/cm3
Cách 2: dùng cân nhạy (có thể cân gram), để một ly nước lên cân, vặn lại số 0 (hoặc ghi trọng lượng của ly và nước đó), treo vật (bạch kim) vào một dây mỏng, nhẹ như sợi tóc, treo vật đó vào ly nước, vật không được đụng đáy ly. Đọc trọng lượng của ly nước bây giờ. Trừ đi trọng lượng ly và nước , phần còn lại là thể tích của vật thể. Chùi khô vật thể và cân để biết trọng lượng. Sau đó tính tỷ trọng của vật thể (trọng lượng chia thể tích) đáp số phải trên 21 thì mới là Bạch Kim thật. Tỷ trọng của các kim loại khác đọc thêm bên dưới! Tại Mỹ, có một loại tiền đồng Bạch Kim được đúc bằng Platinum, có 99.95% Bạch Kim trong đó, được gọi là "American Platinum Eagles" có các trị giá sau:
US$ 5 (1/10 ounce troy)
US$ 10 (1/4 ounce troy)
US$ 25 (1/4 ounce troy)
US$ 50 (1/2 ounce troy) 
US$ 100 (1 ounce troy)

Trên thị trường Việt Nam rất hiếm có nữ trang làm bằng Bạch Kim. Ở Mỹ và Âu châu thì dễ dàng, muốn mua bao nhiêu ký lô vàng hay bạch kim cũng được, chỉ cần tới nhà băng đặt vài ngày là có, nhưng không ai rinh cục vàng cả ký về nhà mà trong nhà băng có những học tủ mướn rồi để vàng trong đó làm của không sợ bị cướp. Còn muốn mua nữ trang bạch kim thật cũng không thành vấn đề, đến ngay cả cty sản xuất nữ trang nổi tiếng, một ở New York, một ở Bỉ, một ở Thụy sĩ và một ở Do thái, đến những chỗ đó hỏi muốn mua hột xoàn và vàng người ta sẽ chỉ cho. Mua có ceritficate đàng hoàng bảo đảm chất lượng, hột xoàn to nhỏ nước xanh nước trắng nước vàng, vòng vàng nhiều ít, vàng hay bạch kim muốn giá nào cũng có, thích kiểu gì cũng có thể đặt làm. Vấn đề nho nhỏ là mình có $ để mua hay không thôi, vì họ bán giá nhất định tính theo cân lượng và giá vàng hay bạch kim của ngày hôm đó, cộng thêm $ công làm món nữ trang, không trả giá!!



Vàng Ý, vàng Nga, vàng Thái, vàng trung quốc, vàng Mỹ, v.v. là nữ trang làm bằng vàng nhập cảng từ các nước đó, mẫu mã khác lạ, nhưng so với vàng bạc VN không có gì khác biệt, chỉ có khác là tỉ lệ các kim loại pha chế thêm vào vàng ở nước này và nước nọ  đều khác nhau. Vàng 24K, 18K, v.v.  thì ở nước nào cũng vậy thôi. Hiện nay, hợp chất có vàng để làm nữ trang đã được pha chế sẵn và có bán sẵn nên phần lớn các nữ trang ở VN đều sản xuất tại VN. Sản phẩm làm bằng tay của VN đáng lẽ phải quý hơn nữ trang sản xuất hàng loạt 100 ngàn cái giống nhau như đúc, bằng máy tại nước ngoài. Nhưng nhiều cửa hàng lợi dụng sự thiếu hiểu biết của khách hàng, và lợi dụng tâm lý "hàng ngoại rất đặc biệt, ít ai có", nên khi bán sản phẩm họ có thể nói là vàng nhập từ Ý để bán mắt hơn.

1 lượng = 1 cây = 10 chỉ =37.5 gram
1 ounce troy  ~ 8.3 chỉ ~ 31.1034807 gram
1 ct (carat) ~ 0.053 chỉ ~ 0.2 gram
1 chỉ = 10 phân = 3.75 gram
1 phân = 10 ly = 0.375 gram
1 ly = 10 zem = 0.0375 gram
1 zem= 10 mi = 0.00375 gram.
1 tael = 1,1913 oz = 37,78 gram
1 tola = 0,375 oz = 11,664 gram




Cân lượng của vàng thỏi nén "Gold bullion in bars " để trữ kim "bullion reserve, gold reserve" hoặc mua bán trên thị trường quốc tế, tùy theo quốc gia, có nước dùng cân lượng ounce troy, cũng có nước dùng kg. Thông thường, thế giới dự trữ kim bằng vàng thỏi tiêu chuẩn LBMA.
* bar = thỏi . "Good Delivery Gold Bars" là những thỏi vàng theo tiêu chuẩn thị trường mua bán vàng của Anh (LBMA = London Bullion Market Association) phần lớn các quốc gia dùng để trữ kim, có tối thiểu 995 phần 1000 vàng, cân nặng từ 350 oz đến 430 oz, kích thước mặt trên 236mm x 57mm, mặt dưới 255mm x 81mm, bề dầy 37mm
* bullion  từ tiếng La tinh bullio (làm cho nóng chảy) kim loại quí  (vàng, bạc, bạch kim, palladium, v.v.)  dưới dạng nén , nén dạng thỏi (bullion bar) hoặc nén thành tiền 1 oz; 1/2 oz; 1/4 oz; 1/10 oz (bullion coin: Krugerrand Nam phi; Australian Kangaroo; American Eagle; American Buffalo; Maple Leaf; chinese Pandas; v.v.) bullion và bar thường dùng để tích trữ, không dùng để lưu thông truyền tay như tiền đồng thường, bởi vì giá trị của nó thay đổi từng ngày tùy theo trị giá của kim loại quý trên thị trường . thỏi vàng cân nặng 400 ounce troy, bằng 12,5 kg với thành phần từ 99,5 đến 100% vàng.
- thỏi nặng 32,15 ounce troy tương đương 1 kg.
- trên thị trường chứng khoán, mua bán thõi 100 ounce troy bằng 3,11 kg.
Trên  thị trường buôn bán vàng thỏi còn có hàng loạt kích cỡ vàng thỏi "gold bar" với cân lượng nặng nhẹ khác, hiện nay 30 loại gold bars biết được.

  Thí dụ:  Vàng thỏi tính bằng g: 1000g (dài 80mm; rộng 40mm; dầy 18mm), 500g (65x32x14), 250g (55x25x10), 100g (55x31x3), 50g (45x25x2,3), 20g (39x22x1,3), 10g (31x18x1),  5g (23x14x0,7), 2,5g (20x12x0,5), 1g (15x8x0,4).


 Dạng vàng thỏi tính theo ounces 100 oz; 10 oz; 5 oz; 1 oz (dài 42mm, rộng 24mm, dầy 2mm) 
  Vàng thỏi tính bằng Taels: 10 taels; 5 tael; 1 tael (37,5g); 10 tola (116,6 g); 5 tola.

Tỷ trọng của Platin: 21,45 g / cm3
Tỷ trọng của Vàng: 19,32 g / cm3
Tỷ trọng của Rhodium: 12,41 g / cm3
Tỷ trọng của Palladium: 12,02 g / cm3
Tỷ trọng của Bạc: 10,49 g / cm3
Tỷ trọng của Đồng: 8,92 g / cm3
Tỷ trọng của Nickel: 8,91 g / cm3
Tỷ trọng của Titan: 4,51 g / cm3 

Friedrich Mohs một nhà vật lý học người Đức, thành lập bảng độ cứng của khoáng chất (Mohs mineral scale of hardness). 10 là độ cứng nhất.


Nguồn tổng hợp internet





















Nhận xét

Đăng nhận xét